Văn hóa » Các mục khác

Quốc hiệu nước ta qua chiều dài lịch sử

31/12/2012 08:12

Những bài học trong sách lịch sử nói đến Xích Quỷ, Văn Lang, Đại Việt, Đại Cồ Việt, Đại Ngu, Việt Nam..., nhưng không rõ lắm bằng ấy tên đã đủ chưa, và cũng không nhớ được những tên nước ấy đã được đặt vào những thời nào và những triều vua nào? Nhân ngày đầu năm, đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi gắn bó với lịch sử thăng trầm của đất nước cũng thú vị…

Thực ra sau khi xem lại sách vở, nhất là những sách viết về sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim), hay những quyển sách sử của Quốc sử quán triều Nguyễn, và cả những quyển sách liên quan đến lịch sử ngày nay, ta có thể tìm ra đáp án. Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, niên hiệu của các đời vua thì nhiều, có vị vua đặt một niên hiệu, nhưng cũng có vua đặt vài ba niên hiệu trong những năm trị vì, nhưng tên nước của ta thì không nhiều lắm. 

Việt Nam được gọi từ lâu nhưng rõ ràng nhất là từ thời Nguyễn
 
Thời cổ đại, đầu tiên là Xích Quỷ dưới thời Kinh Dương Vương, đóng đô ở núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh). Văn Lang dưới triều của vua Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu (Phú Thọ). Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép "Từ đây trở lên là Hồng Bàng Thị, từ Kinh Dương Vương được phong năm Mậu Tuất, cùng một thời với Đế Nghi, truyền đến cuối đời Hùng Vương, ngang với Noãn Vương nhà Chu năm thứ 57 là năm Quý Mão thì hết. Cộng 2.622 năm (2879 - 258 trước CN).
 
Tiếp đến là kỷ nhà Thục, Giáp Thìn, năm thứ nhất (257 trước CN) Thục Phán (An Dương Vương) đánh bại Hùng Vương thôn tính nước Văn Lang, đổi quốc hiệu làm Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa. 
 
Đến kỷ nhà Triệu, Giáp Ngọ, năm thứ nhất (207 trước C.N.) Triệu Đà người huyện Cân Định nước Hán thôn tính Âu Lạc đặt tên nước là Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Đông), ở ngôi được 100 năm, thọ 121 tuổi.
 
Thời Hùng Vương, nước ta có tên là Văn Lang
 
Kỷ nhà tiền Lý, Tân Dậu, năm thứ nhất (541), vua họ Lý, húy là Bôn (cũng gọi là Bí), xưng là Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên.
 
Kỷ nhà Đinh, Mậu Thìn, năm thứ nhất (968), vua họ Đinh (Tiên Hoàng Đế), húy là Bộ Lĩnh, vua lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh về động Hoa Lư (Hoa Lư là sơn phận hai xã Uy Viễn và Uy Tế huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình, có một chỗ đất bằng gọi là động Hoa Lư).
 
Kỷ nhà Lý, Giáp Ngọ năm thứ 6 (1054), mùa đông tháng 10 ngày mồng một Thái tử Nhật Tôn lên ngôi, đặt niên hiệu là Long Thụy Thái Bình năm thứ nhất, đặt quốc hiệu là Đại Việt. Trong sách sử Việt Nam chép có 3 đời vua đặt quốc hiệu là Đại Việt, thứ nhất từ đời nhà Lý như đã nói, thứ nhì là vào đời nhà Lê (Lê Thái Tổ 1428 - 1433), thứ ba là vào năm Nhâm Thân, Gia Long thứ 11 (1812) vua Gia Long đổi quốc hiệu từ Việt Nam thành Đại Việt (Quốc sử di biên - Phan Thúc Trực).
 
Triều Đinh, nước ta có tên là Đại Cồ Việt
 
Canh Thìn năm thứ 3 (1400), Lê Quý Ly ép vua nhà Trần nhường ngôi, tự lập đế, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, quốc hiệu là Đại Ngu ( nghĩa là Vui lớn), đổi lại làm họ Hồ, với ý nghĩa họ Hồ là dòng dõi nhà Ngu, Thuấn bên Trung Quốc. 
 
Giáp Tý năm thứ 3 (1804), vua Gia Long đặt quốc hiệu là Việt Nam. Về quốc hiệu Việt Nam sách Quốc triều chính biên toát yếu của Quốc sử quán triều Nguyễn có chép: Ngài (Gia Long) sai bọn Lê Quang Định sang Trung Hoa cầu phong, lại xin đổi quốc hiệu. Trong quốc thư nói "mấy đời trước mở đất Viêm Giao, ngày càng rộng, gồm cả nước Việt Thường và Chân Lạp, đặt quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối hơn 200 năm. Nay tôi lấy hết cõi Nam, có toàn đất Việt nên theo hiệu cũ để chính quốc danh". Bởi thời Triệu Đà xưa đã đặt tên nước là Nam Việt, bao gồm cả Quảng Đông, Quảng Tây cho nên vua nhà Thanh không thuận, định lấy chữ "Việt" để lên trên, nghĩa là tỏ nước ta giữ đất cũ mà nối nghiệp trước, lấy chữ "Nam" đặt sau. Như vậy là tên nước Việt Nam có từ thời vua Gia Long.
 
Tên gọi Việt Nam như chúng ta đã thấy, đã được gọi từ đời Gia Long (1804), đến năm 1812 vua Gia Long lại đổi là Đại Việt.
 
Năm Mậu Tuất (1838), Minh Mạng thứ 20 đổi quốc hiệu là Đại Nam.
 
Sau đó năm 1945 tên Việt Nam được đặt cho toàn cõi Việt Nam dưới tên gọi Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đến năm 1955 Việt Nam dân chủ cộng hòa để chỉ miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra, và Việt Nam cộng hòa từ vĩ tuyến 17 trở vào. Năm 1976 (2 - 7), tên gọi Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để chỉ toàn cõi Việt Nam cho đến ngày nay (Từ điển Tp. Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2001).
Tuy vậy, về tên gọi Việt Nam sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi cũng có chép: "Những sách, chương của Thiên Vương (chỉ các đời vua Trung Hoa ngày trước), có lúc gọi (nước ta) là Việt Nam, Nam Việt, Giao Chỉ, An Nam, Nam Bình. Nay cũng gọi là Việt Nam". Như vậy theo sách Dư địa chí thì tên gọi Việt Nam đã có từ lâu, tùy từng thời mà gọi.
 
Phạm Ngọc Hiệp
 

 

Tin khác

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang làm việc với lãnh đạo thành phố Hải Phòng Chủ tịch nước Trương Tấn Sang làm việc với lãnh đạo thành phố Hải Phòng 17:09 22/7/2014

Tiếp tục chương trình công tác tại Hải Phòng, ngày 22/7, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã làm việc với lãnh đạo chủ chốt thành phố Hải Phòng.

Cuộc đấu súng kinh hoàng giữa công an và hai tên cướp - Kỳ 2 Cuộc đấu súng kinh hoàng giữa công an và hai tên cướp - Kỳ 2 09:03 22/7/2014

Cuộc đấu súng diễn ra một hồi lâu không có kết quả, thì hai bên cùng dừng lại, tìm sơ hở của nhau để ra tay.

Long Giang: Ngôi sao lầm lỡ Long Giang: Ngôi sao lầm lỡ 08:55 22/7/2014

Mới 26 tuổi, đang ở thời kỳ đẹp nhất của sự nghiệp, tưởng như Long Giang sẽ thi đấu thật tốt ở Đồng Nai để trở lại ĐTQG thì trung vệ này lại bị phát hiện tham gia đường dây dàn xếp tỷ số cùng các đồng đội tại Đồng Nai.

Giá vàng tăng cao vì tình hình căng thẳng vụ rơi máy bay MH17 Giá vàng tăng cao vì tình hình căng thẳng vụ rơi máy bay MH17 17:06 22/7/2014

Chốt phiên này, giá vàng giao tháng 8/2014 tại Sàn giao dịch kim loại New York (COMEX) tăng 4,5 USD lên 1.313,90 USD/ounce.

Lên đầu trang
Xã hội | Văn hóa | Pháp luật | Thời sự